Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: TOA ĐÔ ĐÁNH NGHỆ AN & HƯNG ĐẠO VƯƠNG ĐEM VUA VỀ THANH HÓA




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


6/ TOA ĐÔ ĐÁNH NGHỆ AN:
Từ cuối năm nhâm ngọ
Nghìn hai trăm tám hai(1)
Toa Đô tới Chiêm Thành
Dẫn hải quân lên bộ
Tấn công vào kinh đô.
Vua Chiêm bỏ kinh đô
Lệnh cho các tướng sĩ
Tìm rừng núi quanh co
Những nơi nào hiểm yếu
Đều chia quân đóng chặn.
Đánh mãi mà chẳng xong
Lương thảo cũng cạn dần
Nhiều quân binh bỏ trốn
Toa Đô xin cứu viện
Hoài đợi, vẫn bặt tăm(2)
Chẳng thấy tin tức gì;
Đành phải dẫn quân đi
Đến phía bắc Chiêm Thành
Nơi giáp ranh Đại Việt
Ông cho lập đồn điền
Liền sai quân trồng cấy
Lấy lương thực nuôi quân.
Tới đầu xuân ất dậu
Nghìn hai trăm tám lăm(3)
Được lệnh từ Nguyên chủ
Toa Đô sang Nghệ An
Tiến quân trên đường bộ
Hợp cùng Ô Mã Nhi
Từ bể khơi đánh vào
Cả hai cánh quân Nguyên
Đánh dần lên phương bắc;
Còn ở ngay mặt bắc
Các chiến thuyền nhà Nguyên
Dọc theo sông Hồng Hà
Từ kinh thành Thăng Long
Xuống khúc sông Đại Hoàng(4)
Theo lệnh của Thoát Hoan
Họ dàn quân chờ sẵn.
Chú thích:
(1)       Nghìn hai trăm tám hai: 1282
(2)       Toa Đô chờ hoài không thấy cứu viện, vì đoàn thuyền cứu viện đã nhiều ngày gặp giông bão tới quá trễ hẹn, khi đó Toa Đô đã bỏ đi lên phía giáp ranh với Đại Việt, lập đồn điền trồng cấy; còn đoàn thuyền trong khi đi tìm Toa Đô dọc theo bờ biển, lại gặp giông bão nhiều lần, bị đánh đắm hết cả.
(3)       Nghìn hai trăm tám lăm: 1285
(4)       Đại Hoàng: thuộc huyện Nam Xang, Hà Nam.

7/ HƯNG ĐẠO VƯƠNG ĐEM VUA VỀ THANH HÓA:
Hưng Đạo Vương: Quốc Tuấn
Cùng các tướng hộ vệ
Rước vua về Thiên Trường
Chợt có tin cấp báo:
Toa Đô tới Nghệ An
Đang thúc quân đánh dồn
Tiến dần lên phương bắc;
Vương tâu lên đức vua:
“Xin sai Trần Quang Khải
Đưa binh vào Nghệ An
Giữ chặn các đường hẻm
Không để Toa Đô ra
Và sai Trần Bình Trọng
Ở  lại giữ Thiên Trường
Cự nhau với Thoát Hoan!”;
Phần vương, Trần Quốc Tuấn
Cùng các tướng hộ vệ
Rước vua về Hải Dương.

Thượng tướng Trần Quang Khải
Lên đường vào Nghệ An
Chia quân ra phòng thủ
Nhưng quân Nguyên quá mạnh
Chúng đánh đâu thắng đấy
Lại thấy Ô Mã Nhi
Từ ngoài bể tiến vào
Quang Khải không chặn nổi
Đành phải lùi binh thôi.

Ôi! Trấn thủ Nghệ An
Quan đó tên Trần Kiện
Dắt díu cả gia đình
Xin hàng với Toa Đô
Toa Đô bèn ra lệnh
Dẫn chúng về Yên Kinh;
Hưng Đạo Vương biết chuyện
Liền sai một quan tướng
Dẫn quân đi đường tắt
Đuổi bắt tên Trần Kiện;
Đến địa phận Lạng Sơn
Khi qua trại Ma Lục
Có hai người thổ hào
Một là Nguyễn Thế Lọc
Người kia tên Nguyễn Lĩnh
Đem dân binh đánh chặn
Vừa vặn, quan tướng đến
Bọn quân Nguyên bỏ chạy
Kiện bị tên bắn chết;
Số hắn vẫn còn may
Bên cạnh có người nhà
Người đó là Lê Tắc(1)
Cướp xác Kiện, đem chôn
Rồi bỏ trốn sang Tàu.

Ở lại giữ Thiên Trường
Trần Bình Trọng chuyên tâm
Thấy quân Nguyên xuất hiện
Chúng đến bãi Đà Mạc(2)
Ông dẫn binh ra đánh;
Quân nhà Nguyên quá đông
Ông bị chúng vây bắt
Rơi vào tay Thoát Hoan;
Nể phục Trần Bình Trọng
Thoát Hoan muốn chiêu hàng:
Thết đãi cho ăn uống
Trần Bình Trọng không ăn
Dò hỏi tin vua Trần
Trần Bình Trọng không nói...
Thoát Hoan kiên trì hỏi:
“Trần Bình Trọng tướng quân
Muốn làm vương đất Bắc?”
Bình Trọng quát lên rằng:
“Thà làm quỷ nước Nam
Hơn là vương đất Bắc
Nay ta đã bị bắt
Thì một chết mà thôi
Chớ có hỏi lôi thôi?”
Thoát Hoan dụ chẳng được
Bèn đem ông ra chém!
Tin buồn đến hai vua
Nhân Tông cùng Thượng Hoàng
Trần Bình Trọng tử tiết
Cả triều đình tiếc thương!!!

Tình thế quá nhiễu nhương
Hưng Đạo Vương quyết định
Rước vua đi Quảng Yên
Thuyền sẽ đi Tam Chỉ(3);
Vương cử một võ tướng
Hướng cửa bể Ngọc Sơn(4)
Dẫn thuyền rồng đi trước
Dụ quân giặc đuổi theo
Lý Hằng và Khoan Triệt(5)
Liền sai quân do thám
Bọn chúng bám theo thuyền
Rồi trở về báo tin
Thuyền rồng kia là giả
Cả hai tướng ngỡ ngàng
Vội vàng dẫn quân đi
Về phía sông Tam Chỉ;
Vương hộ giá hai vua
Rời thuyền lên đường bộ
Đi vào làng Thủy Chú
Rồi lại trở xuống thuyền
Chạy đến Bạch Đằng Giang(6)
Tiến vào tỉnh Thanh Hóa.

Quân Nguyên đóng dày đặc
Khắp các vùng Bắc Ninh
Thăng Long và Thiên Trường
Chỗ nào cũng có giặc;
Mặt trong, vùng Nghệ An
Quân nhà Nguyên trùng điệp
Lính của Ô Mã Nhi
Toa Đô, Đường Ngột Ngải
Ba cánh quân cùng tiến...

Thông tin từ chiến tuyến
Liên tục được đưa về
Vua Nhân Tông kinh hãi
Thượng Hoàng ngày đêm lo
Nhà nước đương ngất ngưởng
Nguy nan như trứng chồng...
Hoàng thân Trần Tú Viên
Hoàng thân Trần Ích Tắc
Tự ra hàng Thoát Hoan
Mong bảo toàn mạng sống.

Hưng Đạo Vương: Quốc Tuấn
Vẫn bền vững một lòng
Vẫn trải gió dầm mưa
Đi trèo non vượt biển
Phụng xa giá hai vua
Thế lực tuy cùng tận
Vẫn lo liệu việc nước
Không rối sợ lúc nào
Thật xứng danh đại tướng
Tiếng thơm để muôn đời!!!
Chú thích:
(1)       Lê Tắc: dòng dõi Nguyễn Phu, Nguyễn Phu từng làm thứ sử Giao Châu đời Đông Tấn(317-419) ngày trước; Lê Tắc sau khi trốn sang Tàu có làm bộ sử “An Nam Chí Lược”, nay bộ sử này còn có ở Tàu và Nhật Bản.
(2)       Bãi Đà Mạc: ở khúc sông Thiên Mạc thuộc huyện Đông An, tỉnh Hưng Yên.
(3)       Sông Tam Chỉ: thuộc châu Tiên Yên
(4)       Cửa bể Ngọc Sơn: thuộc châu Vạn Ninh, tỉnh Quảng Yên
(5)       Lý Hằng và Khoan Triệt: hai võ tướng của nhà Nguyên
(6)       Bạch Đằng Giang: thuộc tỉnh Hải Dương

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN THỨ NHẤT: TRẬN HÀM TỬ QUAN & TRẬN CHƯƠNG DƯƠNG ĐỘ



VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN THỨ NHẤT: THÀNH THĂNG LONG THẤT THỦ




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


5/ THÀNH THĂNG LONG THẤT THỦ:
Sau khi hịch(1) truyền đi
Các tướng sĩ nức lòng
Ai cũng lo học tập
Lo huấn luyện quân binh
Tinh thần lên cao độ
Họ quyết tâm đánh giặc
Nhiệt huyết cuồn cuộn dâng
Người nào như người nấy
Lấy mực thích vào tay
Một lời thề: “Sát Đát(2)”!

Lại nói về Thoát Hoan
Chiếm ải Chi Lăng rồi
Thừa thắng thúc quân đi
Nhắm hướng sông Vạn Kiếp
Tìm đánh quân nhà Trần;
Quân nhà Trần yếu thế
Không địch nổi quân Nguyên
Thêm một lần thua trận
Mất hết cả chiến thuyền.

Lính An Nam bị bắt
Lính Mông Cổ tức điên
Khi nhìn thấy lời thề
“Sát Đát”... Kìa! “Sát Đát”...
Cả nghìn lính An Nam
Bị chúng đem giết sạch!
Chúng tràn về Kinh Bắc(3)
Cướp phá vùng Võ Ninh
Vùng Gia Lâm, Đông Ngạn
Cũng bị cướp tơi bời
Rồi cả bọn giặc Nguyên
Về bến Đông Bộ Đầu
Thoát Hoan cho lập trại.

Phía nam ngạn sông Hồng(4)
Quốc Tuấn cũng lập trại
Mong cản bước quân Nguyên
Vương đã không lường trước
Đại bác có tầm xa
Lúc giặc Nguyên bắn tới
Các trại quân nhà Trần
Bị phá sạch sành sanh
Lính An Nam khiếp sợ
Ai nấy chạy thoát thân.
Bờ bên kia sông Hồng
Quân Nguyên làm cầu phao
Chúng qua sông ào ạt
Áp sát thành Thăng Long
Hạ trại ngay chân thành.

Hưng Đạo Vương hộ giá
Đưa vua Trần Nhân Tông
Cùng với Thái Thượng Hoàng
Rời khỏi thành Thăng Long
Còn các tướng ở lại
Chia nhau ra giữ thành.
Thoát Hoan hạ được thành
Dẫn quân vào Thăng Long
Mới biết vua đi rồi
Xa giá về phương nam
Hắn lệnh cho tướng sĩ
Tức tốc đuổi theo sau...
Chú thích:
(1)       Hịch: ở đây chỉ HỊCH TƯỚNG SĨ như đã trình bày ở phần phụ lục 2
(2)       Sát Đát: nghĩa là giết quân Mông Cổ
(3)       Kinh Bắc: xưa gồm 4 phủ(Bắc Hà, Lạng Giang, Thuận An và Từ Sơn); hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội(toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).
(4)       Nam ngạn sông Hồng; bờ phía nam của sông Hồng Hà

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: TOA ĐÔ ĐÁNH NGHỆ AN & HƯNG ĐẠO VƯƠNG ĐEM VUA VỀ THANH HÓA



VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG QUÂN THUA VỀ VẠN KIẾP




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


4/ TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG QUÂN THUA VỀ VẠN KIẾP:
Thoát Hoan lên Kỳ Cấp
Gấp đánh Hưng Đạo Vương
Quân chia ba ngả đường
Một tới ải Khả Ly
Một đi lên Kỳ Cấp
Ngả kia tới Lộc Châu.
Khả Ly và Lộc Châu(1)
Bị tấn công tơi tả
Cả hai đều phải thua;
Hưng Đạo Vương trên núi
Giao chiến với quân Nguyên
Trải qua mấy trận liền
Vẫn chưa phân thắng bại
Chợt nghe tin tới tấp:
“Ải Khả Ly đã mất!”
“Lộc Châu cũng tan rồi!”
Vương lệnh cho tướng sĩ
Lui về giữ Chi Lăng.(2)
Thoát Hoan đánh Chi Lăng
Hưng Đạo Vương kém thế
Không thể giữ Chi Lăng
Nguy khốn bộn bề giăng
Đằng kia, bên thủy lộ
Hàng ngũ cũng chẳng còn
Đành phải rút quân thôi;
Vương định men chân núi
Theo đường bộ rút về
Dã Tượng(3) vội can ngăn:
“Đừng men theo đường núi
E có quân mai phục
Ta cứ ra thủy lộ
Yết Kiêu(4) ở Bái Tân
Chưa thấy mặt chủ tướng
Nhất định ở đó chờ!”
Vương tin lời Dã Tượng
Chạy xuống bến Bái Tân
Chiến thuyền đã đi hết
Chỉ còn mình Yết Kiêu
Vẫn cắm thuyền đợi chủ
Vương cảm khái khen rằng:
“Ôi, tấm lòng trung nghĩa!
Chim hồng hộc bay cao
Nhờ có sáu trụ cánh
Nếu như không có được
Ta làm sao bay cao!”(5)
Gió sông lay xào xạc
Hưng Đạo Vương xuống thuyền
Lệnh cho thuyền lướt nhanh
Nhắm bến xưa, thuyền về;
Kỵ binh Nguyên đuổi tới
Chẳng còn thấy thuyền đâu
Từng lớp lớp sóng ngầu
Như vẫy biệt người xa!

Quan tướng từ mọi nẻo
Gom nhặt lại tàn quân
Lần lượt xuôi Vạn Kiếp
Hội cùng Hưng Đạo Vương;
Nhà vua ở kinh thành
Ruột gan như có lửa
Ngự thuyền đến Hải Dương
Vời Hưng Đạo Vương tới
Nói cho tỏ ruột gan:
“Trẫm thấy giặc quá mạnh
Sợ tàn hại cho dân
Hay là... trẫm xin hàng
Để cứu thoát muôn dân?”
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
“Lòng bệ hạ từ nhân
Nhưng mà còn tôn miếu
Còn xã tắc thì sao?
Nếu bệ hạ muốn hàng
Hãy chém đầu tôi trước
Rồi sau đó sẽ hàng!”
Nghe được lời trung liệt
Bụng vua Trần mới yên.

Hưng Đạo Vương kiên trì
Cho chiêu tập thêm binh
Các đạo binh bấy giờ
Hội về sông Vạn Kiếp
Hơn hai mươi vạn người
Thanh thế ngời ngời lên.
Vương truyền cho tướng sĩ
Quyển “Binh Thư Yếu Lược”
Do chính ngài soạn ra
Nhằm vươn xa trí lực
Dạy cách thức luyện binh
Dạy tiến lui thành thục
Dạy thu phục quân nhân...
Để vỗ an binh lính
Sau mấy lần thua trận
Vương truyền hịch khuyên răn
Một áng văn bất hủ(6)
Chở sức mạnh hùng hồn
Nâng bước chân người lính
Chú thích:
(1)       Khả Ly và Lộc Châu: hai cửa ải thuộc tỉnh Lạng Sơn
(2)       Ải Chi Lăng: tục gọi là bầu Chi Lăng, ở tổng Chi Lăng, gần ga Tuần Muội, thuộc về địa hạt châu Ôn, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ấy là một nơi hiểm địa của nước ta.
(3)       Dã Tượng; một trong năm mãnh tướng của Hưng Đạo Vương, ông có biệt tài thuần phục và huấn luyện voi chiến, nên được Hưng Đạo Vương đặt tên cho là Dã Tượng; không rõ tên thật của ông là gì. Ông là người đã chỉ huy lực lượng tượng binh nhà Trần trong cuộc giao chiến với kỵ binh của quân Nguyên Mông ở Vạn Kiếp.
(4)       Yết Kiêu: tên thật là Phạm Hữu Thế, người làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; ông là gia tướng của Hưng Đạo Vương, Vương đã lấy tên của một loài kình ngư là Yết Kiêu đặt cho gia nô của mình, vì thấy ông có biệt tài bơi lặn xuất sắc.
(5)       Câu nói của Hưng Đạo Vương: “Ôi, chim hồng hộc muốn bay cao nhờ có sáu trụ cánh, nếu không thì cũng như chim thường thôi!”, lời của Hưng Đạo Vương bày tỏ với gia tướng rằng: nếu không nhờ có họ, một mình Vương cũng không làm được việc lớn.
(6)       HỊCH TƯỚNG SĨ: “Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn là quân nghịch tặc. Các bậc trung thần nghĩa sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử sách đến nghìn muôn đời như thế được?
Nay các ngươi vốn dòng vũ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện cổ tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư(1) nhỏ mọn, chống với quân Mông Kha(2) kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường Ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ tướng của Đường Ngột Ngại là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi, đánh được quân Nam chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, ỷ thế Vân Nam vương(3) để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư xử so với Vương Công Kiên, Đường Ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.
Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh. Chẳng những là thái ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc; chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên nhân ta được vẻ vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ, trăm năm vinh hiển; chẳng những là một mình ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.
Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh gia hợp lại làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.
Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình Lỗ(4) mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.”
Chú thích:
(1) Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên bên Tàu.
(2) Mông Kha là vua Mông Cổ, anh Hốt Tất Liệt.
(3) Khi quân Mông Cổ lấy được đất Vân Nam rồi, Hốt Tất Liệt phong cho con là Hốt Kha Kích là Vân Nam vương.
(4) Bình Lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình Lỗ để đi lên Thái Nguyên cho tiện. Vậy thành Bình Lỗ có lẽ ở vào hạt Thái Nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng Đạo vương thì thành Bình Lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền Lê, rồi Lý Thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN THỨ NHẤT: THÀNH THĂNG LONG THẤT THỦ