Thứ Ba, 1 tháng 9, 2026

VNSL: CHƯƠNG VIII - NHÀ TRẦN: TRẦN HIẾN TÔNG

 

VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ

 

III-       TRẦN HIẾN TÔNG(1329-1341)

Nghìn ba trăm  hăm chín(1)

Thái tử Vượng làm vua:

Trần Hiến Tông lúc ấy

Mới có 10 tuổi đầu

Nên đã biết gì đâu

Vua vẫn chưa tự chủ

Mười ba năm làm vua

Chỉ là trên danh nghĩa

Việc trông nom xã tắc

Ở cả tay Thượng hoàng.

 

1/ GIẶC NGƯU HỐNG

Minh Tông vừa nhường ngôi

Đã có nơi loạnlạc

Ở phía mạn Đà giang(2):

Có giặc Mường Ngưu hống.

Thái Thượng hoàng thân chinh

Đi đánh bọn Ngưu hống;

Chúng phái người đưa thư

Bọn giặc giả xin hàng;

Thượng hoàng điều binh đi

Binh triều đình chưa tới

Đã có đội tiên phong(3)

Xuất phát từ Thanh hóa

Họ đã quá vội vàng

Tiến trước về Chiêm chiêu

Họ vừa đến trại(4) này

Giặc trong ấy đổ ra

Binh Thanh hóa bất ngờ

Chẳng còn kịp trở tay

Cả đạo quân tan tác

Vũ Tư Hoành tử trận.

Vừa hay tin dữ ấy

Đại binh Thái Thượng hoàng

Lừng lẫy tiếnquân lên

Quân Ngưu hống bỏ chạy

Trốn Vào rừng ẩn núp

Chúng quanh co lén lút

Nên không trừ hết được...

Tháng chín năm đinh sửu

Nghìn ba trăm  băm bảy(5)

Một dũng tướng nhà Trần

Chính là Hưng hiếu vương

Tổng chỉ huy binh lính

Hành quân bằng đường thủy

Ngược dòng sông Bạch Hạc(6)

Vương dẫn binh thần tốc

Xông vào trại Trịnh kỳ(7)

Chém được tên đầu đảng

Như con rắn mất đầu

Mạn Đà giang lặng sóng

Giặc Ngưu hống mới yên!

Chú thích:

(1) Nghìn ba trăm  hăm chín: năm 1329, Thái tử Vượng lên làm vua, lấy danh hiệu là Trần Hiến Tông

(2) Đà giang: vùng tây bắc An Nam

(3) Một số cánh quân tiên phong (như lực lượng của Chiêu Nghĩa hầu Phụ Minh) tự ý hành động, không theo lệnh nên đã bị thất trận, Tuyên Uy tướng quân Vũ Tư Hoành tử trận.

(4) trại Chiêm chiêu

(5) Nghìn ba trăm băm bảy: năm 1337, Hưng hiếu vương dụng binh thần tốc, đem quân bất ngờ đánh thẳng vào trại địch, chém chết tên đầu đảng

(6) Sông Bạch hạc: sông Đà

(7) Trại Trịnh kỳ: còn gọi là Chiềng Kỳ, thuộc vùng đất tây bắc

 

2/ GIẶC AI-LAO:

Khi còn đang bận rộn

Đánh đuổi Giặc Ngưu hống

Giặc Ai-lao lại vào

Cướp phá  huyện Tương dương(1)..

Khiến dân tah khốn đốn.

Nghìn ba trăm băm bốn(2)

Năm đó, năm giáp tuất

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Thân chinh đi đánh giặc:

Sai ông Nguyễn Trung Ngạn

Vào Thanh hóa vận lương

Chuẩn bị mặt hậu cần;

Thượng hoàng dẫn đại quân

Rầm rộ giương thanh thế

Tiến về huyện Tương dương

Kiềm châu(3) đón quân vào

Bọn giặc Lào khiếp hãi

Chúng tháo chạy tơi bời

Trốn về Lào biệt tăm!

 

Nghìn ba trăm băm lăm(4)

Giặc Ai-lao lại tới

Cướp phá ấp Nam nhung.

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Lần thứ hai ngự giá

Đi đánh giặc Ai-lao

Ngài sai Đoàn Nhữ Hài(5)

làm Đô đốc chư quân.

Nhữ Hài liền xung trận

Dẫn binh về phía trước

Vừa đến ấp Nam nhung

Hôm ấy có sương mù

Sông Tiết la mờ khuất

Phục binh của Ai-lao

Đổ ra đánh ào ào

Quan quân ta thua chạy

Rơi xuống sông chết đuối

Lẫn trong đám loạn quân

Đoàn Nhữ Hài cũng chết.

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Thấy Nhữ Hài bại trận

Vì quá ư khinh địch;

Ngài quan sát địa hình

Chỉnh đốn lại chư quân

Thân chinh đi tìm giặc

Vượt qua bao hiểm trở

Đánh  dẹp bọn giặc Lào

Khỏi bờ cõi nước ta.

Tháng mười hai năm đó

Thượng hoàng rút quân về

Qua vùng núi Hành Lam(6)

Lòng ngài đầy cảm khái

Sai ông Nguyễn Trung Ngạn

Khắc bia vào núi đá

Lời lẽ ý răn đe(7)

Giặc Lào kia đừng đến

Bia ấy nay vẫn  còn.

 

Thời đến năm tân tị

Nghìn ba trăm bốn mốt(8)

Trần Hiến Tông qua đời

Trị vì mười ba năm

Hăm ba năm tuổi thọ.

Chú thích:

 (1) Tương dương : thuộc tỉnh Nghệ an

(2) Nghìn ba trăm băm bốn: năm 1334

(3) Kiềm châu: thuộc huyện Tương dương

(4) Nghìn ba trăm băm lăm: năm 1335, Giặc Ai-lao lại tới cướp phá ấp Nam nhung, huyện Tương dương, tỉnh Nghệ an

(5) Đoàn Nhữ Hài: bấy giờ đang là quan Kinh lược sứ tỉnh Nghệ an

(6) Núi Hành Lam: nay thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ an

(7) Xem văn bài bia ấy được dịch ra chữ nôm ở cuối phần chú thích

(8) Nghìn ba trăm bốn mốt: năm 1341, Trần Hiến Tông qua đời, trị vì 13 năm, thọ 23 tuổi.

Văn bia khắc trên núi đá như sau:

«Chương-nghiêu Văn-triết Thái-thượng-hoàng là vua thứ sáu đời nhà Trần, nước Hoàng-Việt, chịu mệnh trời nhất thống cõi trung hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai-lao nhỏ-mọn kia dám ngạnh vương-hóa; cuối mùa thu năm ất-hợi vua thân đem sáu quân đi tuần cõi tây, Thế-tử nước Chiêm-thành, nước Chân-lạp, nước Tiêm-la và tù-trưởng các đạo mán là Quì, Cầm, Xa, Lạc, tù-trưởng rợ Bồ-man mới phụ và các bộ Mán Thanh-xa đều mang phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê-tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật, sai các tướng và quân rợ-mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng chạp nhuận năm ất-hợi, niên-hiệu Khai-hữu thứ 7, khắc vào đá ».

 


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét