VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ
VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ
III- TRẦN
HIẾN TÔNG(1329-1341)
Nghìn ba trăm hăm chín(1)
Thái tử Vượng làm vua:
Trần Hiến Tông lúc ấy
Mới có 10 tuổi đầu
Nên đã biết gì đâu
Vua vẫn chưa tự chủ
Mười ba năm làm vua
Chỉ là trên danh nghĩa
Việc trông nom xã tắc
Ở cả tay Thượng hoàng.
1/ GIẶC NGƯU HỐNG
Minh Tông vừa nhường ngôi
Đã có nơi loạnlạc
Ở phía mạn Đà giang(2):
Có giặc Mường Ngưu hống.
Thái Thượng hoàng thân chinh
Đi đánh bọn Ngưu hống;
Chúng phái người đưa thư
Bọn giặc giả xin hàng;
Thượng hoàng điều binh đi
Binh triều đình chưa tới
Đã có đội tiên phong(3)
Xuất phát từ Thanh hóa
Họ đã quá vội vàng
Tiến trước về Chiêm chiêu
Họ vừa đến trại(4) này
Giặc trong ấy đổ ra
Binh Thanh hóa bất ngờ
Chẳng còn kịp trở tay
Cả đạo quân tan tác
Vũ Tư Hoành
tử trận.
Vừa hay tin
dữ ấy
Đại binh Thái Thượng hoàng
Lừng lẫy tiếnquân lên
Quân Ngưu hống bỏ chạy
Trốn Vào rừng ẩn núp
Chúng quanh co lén lút
Nên không trừ hết được...
Tháng chín năm đinh sửu
Nghìn ba trăm băm bảy(5)
Một dũng tướng nhà Trần
Chính là Hưng hiếu vương
Tổng chỉ huy binh lính
Hành quân bằng đường thủy
Ngược dòng sông Bạch Hạc(6)
Vương dẫn binh thần tốc
Xông vào trại Trịnh kỳ(7)
Chém được tên đầu đảng
Như con rắn mất đầu
Mạn Đà giang lặng sóng
Giặc Ngưu hống mới yên!
Chú thích:
(1) Nghìn ba trăm hăm chín: năm
1329, Thái tử Vượng lên làm vua, lấy danh hiệu là Trần Hiến Tông
(2) Đà giang: vùng tây bắc An Nam
(3) Một số cánh quân tiên phong (như lực lượng của Chiêu Nghĩa hầu Phụ
Minh) tự ý hành động, không theo lệnh nên đã bị thất trận, Tuyên Uy tướng quân
Vũ Tư Hoành tử trận.
(4) trại Chiêm chiêu
(5) Nghìn ba trăm băm bảy: năm 1337, Hưng hiếu vương dụng binh thần tốc,
đem quân bất ngờ đánh thẳng vào trại địch, chém chết tên đầu đảng
(6) Sông Bạch hạc: sông Đà
(7) Trại Trịnh
kỳ: còn gọi là Chiềng Kỳ, thuộc vùng đất tây bắc
2/ GIẶC AI-LAO:
Khi còn đang bận rộn
Đánh đuổi Giặc Ngưu hống
Giặc Ai-lao lại vào
Cướp phá huyện Tương dương(1)..
Khiến dân tah khốn đốn.
Nghìn ba trăm băm bốn(2)
Năm đó, năm giáp tuất
Minh Tông, Thái Thượng hoàng
Thân chinh đi đánh giặc:
Sai ông Nguyễn Trung Ngạn
Vào Thanh hóa vận lương
Chuẩn bị mặt hậu cần;
Thượng hoàng dẫn đại quân
Rầm rộ giương thanh thế
Tiến về huyện Tương dương
Kiềm châu(3) đón quân vào
Bọn giặc Lào khiếp hãi
Chúng tháo chạy tơi bời
Trốn về Lào biệt tăm!
Nghìn ba trăm băm lăm(4)
Giặc Ai-lao lại tới
Cướp phá ấp Nam nhung.
Minh Tông, Thái Thượng hoàng
Lần thứ hai ngự giá
Đi đánh giặc Ai-lao
Ngài sai Đoàn Nhữ Hài(5)
làm Đô đốc chư quân.
Nhữ Hài liền xung trận
Dẫn binh về phía trước
Vừa đến ấp Nam nhung
Hôm ấy có sương mù
Sông Tiết la mờ khuất
Phục binh của Ai-lao
Đổ ra đánh ào ào
Quan quân ta thua chạy
Rơi xuống sông chết đuối
Lẫn trong đám loạn quân
Đoàn Nhữ Hài cũng chết.
Minh Tông, Thái Thượng hoàng
Thấy Nhữ Hài bại trận
Vì quá ư khinh địch;
Ngài quan sát địa hình
Chỉnh đốn lại chư quân
Thân chinh đi tìm giặc
Vượt qua bao hiểm trở
Đánh dẹp
bọn giặc Lào
Khỏi bờ cõi nước ta.
Tháng mười hai năm đó
Thượng hoàng rút quân về
Qua vùng núi Hành Lam(6)
Lòng ngài đầy cảm khái
Sai ông Nguyễn Trung Ngạn
Khắc bia vào núi đá
Lời lẽ ý răn đe(7)
Giặc Lào kia đừng đến
Bia ấy nay vẫn
còn.
Thời đến năm tân tị
Nghìn ba trăm bốn mốt(8)
Trần Hiến Tông qua đời
Trị vì mười ba năm
Hăm ba
năm tuổi thọ.
Chú thích:
(1) Tương dương : thuộc tỉnh Nghệ an
(2) Nghìn ba trăm băm bốn: năm 1334
(3) Kiềm châu: thuộc huyện Tương dương
(4) Nghìn ba trăm băm lăm: năm 1335, Giặc Ai-lao lại tới cướp phá ấp Nam nhung, huyện Tương dương, tỉnh
Nghệ an
(5) Đoàn Nhữ Hài: bấy giờ đang là quan Kinh lược sứ tỉnh Nghệ an
(6) Núi Hành Lam: nay thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ an
(7) Xem văn bài bia ấy được dịch ra chữ nôm ở cuối phần
chú thích
(8) Nghìn ba trăm bốn mốt: năm 1341, Trần Hiến Tông qua đời, trị vì 13
năm, thọ 23 tuổi.
Văn bia khắc trên núi đá như sau:
«Chương-nghiêu Văn-triết Thái-thượng-hoàng là
vua thứ sáu đời nhà Trần, nước Hoàng-Việt, chịu mệnh trời nhất thống cõi trung
hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai-lao nhỏ-mọn kia dám ngạnh
vương-hóa; cuối mùa thu năm ất-hợi vua thân đem sáu quân đi tuần cõi tây, Thế-tử
nước Chiêm-thành, nước Chân-lạp, nước Tiêm-la và tù-trưởng các đạo mán là Quì,
Cầm, Xa, Lạc, tù-trưởng rợ Bồ-man mới phụ và các bộ Mán Thanh-xa đều mang
phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê-tối, sợ phải
tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu
Mật, sai các tướng và quân rợ-mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy
trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng chạp nhuận năm
ất-hợi, niên-hiệu Khai-hữu thứ 7, khắc vào đá ».