Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

VNSL: CHƯƠNG VIII - NHÀ TRẦN: TRẦN ANH TÔNG


VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ

 

Chương VIII: NHÀ TRẦN

Thời kỳ thứ hai(1293-1341)

 

I-             TRẦN ANH TÔNG(1293-1314):

1/ ĐỨC ĐỘ VUA ANH TÔNG:

Năm ấy, năm quý tỵ

Nghìn hai trăm chín ba(1)

Trần Thuyên lên kế vị

Đế hiệu là Anh Tông

Vua Anh Tông còn trẻ

Thuở ấy hay uống rượu

Tính tình thích rong chơi

Ban đêm rời cung điện

Vi hành quanh thị thành

Đôi khi gặp lưu manh

Bị chúng đánh tơi bời

Nhà vua đâu có sợ!;

Rồi một đêm, rượu say...

Ngay hôm sau, có việc

Thái Thượng Hoàng về kinh

Cả triều thần ra đón

Anh Tông vẫn ngủ say

Thái Thượng Hoàng giận lắm

Truyền xa giá quay về

Đồng thời, ngài hạ chiếu:

“Triệu  văn võ bá quan

Gấp tới Thiên Trường phủ

Lập hội nghị ở đấy!”

Khi Anh Tông tỉnh dậy

Rõ chuyện đã xảy ra

Trong lòng vua hãi sợ

Liền vội vã rời cung

Gặp trúng anh học trò

Nhờ anh ta viết biểu

Xin Thượng Hoàng; xá tội;

Người học trò viết xong

Cả hai bèn dong thuyền

Đi suốt đêm không nghỉ

Tìm đến phủ Thiên Trường;

Thái Thượng Hoàng xem biểu

Mắng Anh Tông một trận

Ngài mới xá tội cho.

Kể từ sau hôm ấy

Nhờ giáo huấn của cha

Anh Tông thôi uống rượu

Tuyệt thôi không uống rượu!...

Lại nói về người kia

Anh học trò hôm đó

Có tên: Đoàn Nhữ Hài

Được Anh Tông tin tưởng

Phong cho một chức quan

Làm Ngự sử trung tán.

 

Trần Anh Tông hiếu thảo

Vâng lời cha chỉ bảo

Ngài cũng rất thông minh

Có tinh thần đổi mới

Những gì là hủ tục

Chuyện mê tín dị đoan

Ngài quyết tâm bài trừ:

Kìa! Lệ xăm hình rồng

Qua bao đời Hùng Vương

Các vua chúa An Nam

Vẫn giữ gìn tục ấy

Nay Anh Tông bãi bỏ;

Việc coi thầy bói toán

Nhà vua cũng chẳng dung...

Vua hiền có tôi trung

Là vị vua đức độ

Người hiếu thảo, thông minh

Nắm trong tay triều chính

Cương kỷ thật rõ ràng

Hàng bá quan văn võ

Dốc lòng ra giúp nước:

Văn: như Trương Hán Siêu

Như là Nguyễn Trung Ngạn

Như là Mạc Đĩnh Chi...;

Võ: có Phạm Ngũ Lão(2)

Điều khiển binh như thần

Làm thơ tựa rồng bay!...

 

2/ TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG MẤT:  

Vào thời vua Anh Tông

Hưng Đạo vương, Quốc Tuấn

Đã đến tuổi cao niên

Xin về quê trí sĩ(3)

Khi ngài lâm trọng bịnh

Vua ngự giá tới thăm

Người hỏi Trần Quốc Tuấn:

“Nếu Thượng phụ(4) không còn

Phỏng quân bắc kéo sang

Nước ta làm thế nào?”

Trần Quốc Tuấn mới thưa:

“Xưa Triệu Vũ(5) dựng nghiệp

Hán binh đánh biên cương

Dân đốt sạch đồng áng

Đoản binh đánh trường trận.

Đời Đinh, Lê, Lý, Trần

Quân, thần đều như một 

Anh em sống hòa thuận

Trên dưới cùng dốc sức.

Kẻ địch đánh lâu dài

Ta dùng đoản chế ngự

Nếu giặc như lửa, gió

Thế ấy dễ chặn ngay.

Nhưng chúng cứ dần dà

Như tằm ăn lá dâu

Ấy mới thực làkhó...

Cần có tướng tài ba

Tùy cơ mà ứng biến

Quân dân phải một lòng

Như cha con gắn bó

Gốc rễ bền, sâu chặt

Khoan thư sức cho dân

Là kế hay, giữ nước.”

Anh Tông nghe thấy phải

Ghi tạc lại lời vàng!

 

Ngày hai mươi tháng tám

Trần Quốc Tuấnqua đời

Năm ấy, năm canh tí

Năm một nghìn ba trăm(6)

Cả triều đình thương tiếc

Bách tính cũng ngậm ngùi

Tiếc  thương Hưng Đạo vương

Vị anh hùng hào kiệt

Một đời trung với nước

Dẫu quyền uy lẫy lừng

Ngài vẫn giữ phận tôi

Vững vàng, lòng chính trực.

Ngàn năm sau còn đó

Khói hương mãi quyện bay

Nhân dân lập đền thờ

Ghi nhớ ơn công đức!

Chú thích:

(1) Nghìn hai trăm chín ba: năm 1293 vua Trần Nhân Tông nhường ngôi cho Thái tử Trần Thuyên, rồi về Thiên Trường phủ giữ chức Thái Thượng Hoàng.

(2) Phạm ngũ Lão là người làng Phù Ủng, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hải Dương. Trước theo Trần Hưng Đạo vương đánh giặc Nguyên, lập được công to. Triều đình trọng dụng cho làm đại tướng. Ông là tác giả của bài thơ Thuật Hoài rất nổi tiếng(xem phụ lục 2)

(3) Trí sĩ : về hưu,

(4) Hưng đạo vương là một danh tướng đệ nhất nước Nam, đánh giặc Nguyên có công to với nước, được phong làm Thái sư, Thượng phụ, Thượng quốc công, Bình bắc đại nguyên súy, Hưng đạo đại vương(xem phần vua Nhân Tông ở cuối chương V)

(5) Triệu Vũ vương dựng nghiệp lập nên nước Nam Việt ta ngày trước, hồi đó Hán đế đem binh đến đánh, Vũ vương sai dân đốt sạch đồng áng, không để lương thảo cho giặc chiếm. Đến đời Đinh, Lê, nhiều người hiền lương giúp đỡ, bấy giờ nước Nam đang mạnh, vua tôi đồng lòng, bụng dân phấn chấn; mà bên Tàu đang lúc suy nhược, cho nên ta phá được quân nhà Tống...

(6) Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn mất ngày 20 tháng tám năm canh tí(năm 1300).



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét