Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG QUÂN THUA VỀ VẠN KIẾP




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


4/ TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG QUÂN THUA VỀ VẠN KIẾP:
Thoát Hoan lên Kỳ Cấp
Gấp đánh Hưng Đạo Vương
Quân chia ba ngả đường
Một tới ải Khả Ly
Một đi lên Kỳ Cấp
Ngả kia tới Lộc Châu.
Khả Ly và Lộc Châu(1)
Bị tấn công tơi tả
Cả hai đều phải thua;
Hưng Đạo Vương trên núi
Giao chiến với quân Nguyên
Trải qua mấy trận liền
Vẫn chưa phân thắng bại
Chợt nghe tin tới tấp:
“Ải Khả Ly đã mất!”
“Lộc Châu cũng tan rồi!”
Vương lệnh cho tướng sĩ
Lui về giữ Chi Lăng.(2)
Thoát Hoan đánh Chi Lăng
Hưng Đạo Vương kém thế
Không thể giữ Chi Lăng
Nguy khốn bộn bề giăng
Đằng kia, bên thủy lộ
Hàng ngũ cũng chẳng còn
Đành phải rút quân thôi;
Vương định men chân núi
Theo đường bộ rút về
Dã Tượng(3) vội can ngăn:
“Đừng men theo đường núi
E có quân mai phục
Ta cứ ra thủy lộ
Yết Kiêu(4) ở Bái Tân
Chưa thấy mặt chủ tướng
Nhất định ở đó chờ!”
Vương tin lời Dã Tượng
Chạy xuống bến Bái Tân
Chiến thuyền đã đi hết
Chỉ còn mình Yết Kiêu
Vẫn cắm thuyền đợi chủ
Vương cảm khái khen rằng:
“Ôi, tấm lòng trung nghĩa!
Chim hồng hộc bay cao
Nhờ có sáu trụ cánh
Nếu như không có được
Ta làm sao bay cao!”(5)
Gió sông lay xào xạc
Hưng Đạo Vương xuống thuyền
Lệnh cho thuyền lướt nhanh
Nhắm bến xưa, thuyền về;
Kỵ binh Nguyên đuổi tới
Chẳng còn thấy thuyền đâu
Từng lớp lớp sóng ngầu
Như vẫy biệt người xa!

Quan tướng từ mọi nẻo
Gom nhặt lại tàn quân
Lần lượt xuôi Vạn Kiếp
Hội cùng Hưng Đạo Vương;
Nhà vua ở kinh thành
Ruột gan như có lửa
Ngự thuyền đến Hải Dương
Vời Hưng Đạo Vương tới
Nói cho tỏ ruột gan:
“Trẫm thấy giặc quá mạnh
Sợ tàn hại cho dân
Hay là... trẫm xin hàng
Để cứu thoát muôn dân?”
Hưng Đạo Vương tâu rằng:
“Lòng bệ hạ từ nhân
Nhưng mà còn tôn miếu
Còn xã tắc thì sao?
Nếu bệ hạ muốn hàng
Hãy chém đầu tôi trước
Rồi sau đó sẽ hàng!”
Nghe được lời trung liệt
Bụng vua Trần mới yên.

Hưng Đạo Vương kiên trì
Cho chiêu tập thêm binh
Các đạo binh bấy giờ
Hội về sông Vạn Kiếp
Hơn hai mươi vạn người
Thanh thế ngời ngời lên.
Vương truyền cho tướng sĩ
Quyển “Binh Thư Yếu Lược”
Do chính ngài soạn ra
Nhằm vươn xa trí lực
Dạy cách thức luyện binh
Dạy tiến lui thành thục
Dạy thu phục quân nhân...
Để vỗ an binh lính
Sau mấy lần thua trận
Vương truyền hịch khuyên răn
Một áng văn bất hủ(6)
Chở sức mạnh hùng hồn
Nâng bước chân người lính
Chú thích:
(1)       Khả Ly và Lộc Châu: hai cửa ải thuộc tỉnh Lạng Sơn
(2)       Ải Chi Lăng: tục gọi là bầu Chi Lăng, ở tổng Chi Lăng, gần ga Tuần Muội, thuộc về địa hạt châu Ôn, tỉnh Lạng Sơn. Chỗ ấy là một nơi hiểm địa của nước ta.
(3)       Dã Tượng; một trong năm mãnh tướng của Hưng Đạo Vương, ông có biệt tài thuần phục và huấn luyện voi chiến, nên được Hưng Đạo Vương đặt tên cho là Dã Tượng; không rõ tên thật của ông là gì. Ông là người đã chỉ huy lực lượng tượng binh nhà Trần trong cuộc giao chiến với kỵ binh của quân Nguyên Mông ở Vạn Kiếp.
(4)       Yết Kiêu: tên thật là Phạm Hữu Thế, người làng Hạ Bì, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương; ông là gia tướng của Hưng Đạo Vương, Vương đã lấy tên của một loài kình ngư là Yết Kiêu đặt cho gia nô của mình, vì thấy ông có biệt tài bơi lặn xuất sắc.
(5)       Câu nói của Hưng Đạo Vương: “Ôi, chim hồng hộc muốn bay cao nhờ có sáu trụ cánh, nếu không thì cũng như chim thường thôi!”, lời của Hưng Đạo Vương bày tỏ với gia tướng rằng: nếu không nhờ có họ, một mình Vương cũng không làm được việc lớn.
(6)       HỊCH TƯỚNG SĨ: “Ta thường nghe chuyện: Kỷ Tín liều thân chịu chết thay cho vua Cao-đế; Do Vu lấy mình đỡ ngọn giáo cho vua Chiêu-vượng; Dư Nhượng nuốt than để báo thù cho chủ; Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước; Kính Đức là một chức quan còn nhỏ, mà liều thân cứu vua Thái-tông được thoát vòng vây; Kiểu Khanh là một bề tôi ở xa, mà kể tội mắng thằng Lộc Sơn là quân nghịch tặc. Các bậc trung thần nghĩa sĩ ngày xưa, bỏ mình vì nước, đời nào không có? Giả sử mấy người ấy cũng cứ bo bo theo lối thường tình, chết già ở xó nhà thì sao cho lưu danh sử sách đến nghìn muôn đời như thế được?
Nay các ngươi vốn dòng vũ tướng, không hiểu văn nghĩa, nghe những chuyện cổ tích ấy, nửa tin nửa ngờ, ta không nói làm gì nữa; ta hãy đem chuyện đời Tống, Nguyên mới rồi mà nói: Vương công Kiên là người thế nào? Tỳ tướng của Vương công Kiên là Nguyễn văn Lập lại là người thế nào, mà giữ một thành Điếu-ngư(1) nhỏ mọn, chống với quân Mông Kha(2) kể hàng trăm vạn, khiến cho dân sự nhà Tống, đến nay còn đội ơn sâu. Đường Ngột Ngại là người như thế nào? Tỳ tướng của Đường Ngột Ngại là Xích Tu Tư lại là người thế nào, mà xông vào chỗ lam chướng xa xôi, đánh được quân Nam chiếu trong vài ba tuần, khiến cho quân trướng đời Nguyên đến nay còn lưu tiếng tốt. Huống chi ta cùng các ngươi sinh ở đời nhiễu nhương, gặp phải buổi gian nan này, trông thấy những ngụy sứ đi lại rầm rập ngoài đường, uốn lưỡi cú diều mà xỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tổ phụ, lại cậy thế Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa, ỷ thế Vân Nam vương(3) để vét bạc vàng; của kho có hạn, lòng tham không cùng, khác nào như đem thịt mà nuôi hổ đói, giữ sao cho khỏi tai vạ về sau!
Ta đây, ngày thì quên ăn, đêm thì quên ngủ, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa, chỉ căm tức rằng chưa được sả thịt lột da của quân giặc, dẫu thân này phơi ngoài nội cỏ, xác này gói trong da ngựa, thì cũng đành lòng. Các ngươi ở cùng ta coi giữ binh quyền, cũng đã lâu ngày, không có áo thì ta cho áo, không có ăn thì ta cho ăn, quan còn nhỏ thì ta thăng thưởng, lương có ít thì ta tăng cấp, đi thủy thì ta cho thuyền, đi bộ thì ta cho ngựa, lúc hoạn nạn thì cùng nhau sống chết, lúc nhàn hạ thì cùng nhau vui cười, những cách cư xử so với Vương Công Kiên, Đường Ngột Ngại ngày xưa cũng chẳng kém gì.
Nay các ngươi trông thấy chủ nhục mà không biết lo, trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm; hoặc lấy việc chọi gà làm vui đùa, hoặc lấy việc đánh bạc làm tiêu khiển, hoặc vui thú về vườn ruộng, hoặc quyến luyến về vợ con, hoặc nghĩ về lợi riêng mà quên việc nước, hoặc ham về săn bắn mà quên việc binh, hoặc thích rượu ngon, hoặc mê tiếng hát. Nếu có giặc đến, thì cựa gà trống sao cho đâm thủng được áo giáp; mẹo cờ bạc sao cho dùng nổi được quân mưu; dẫu rằng ruộng lắm vườn nhiều, thân ấy nghìn vàng khôn chuộc; vả lại vợ bìu con díu, nước này trăm sự nghĩ sao; tiền của đâu mà mua cho được đầu giặc; chó săn ấy thì địch sao nổi quân thù; chén rượu ngon không làm được cho giặc say chết, tiếng hát hay không làm được cho giặc điếc tai; khi bấy giờ chẳng những là thái ấp của ta không còn, mà bổng lộc của các ngươi cũng hết; chẳng những là gia quyến của ta bị đuổi, mà vợ con của các ngươi cũng nguy; chẳng những là ta chịu nhục bây giờ, mà trăm năm về sau, tiếng xấu hãy còn mãi mãi; mà gia thanh của các ngươi cũng chẳng khỏi mang tiếng nhục, đến lúc bấy giờ các ngươi dẫu muốn vui vẻ, phỏng có được hay không?
Nay ta bảo thật các ngươi: nên cẩn thận như nơi củi lửa, nên giữ gìn như kẻ húp canh, dạy bảo quân sĩ, luyện tập cung tên, khiến cho người nào cũng có sức khỏe như Bàng Mông và Hậu Nghệ, thì mới có thể dẹp tan được quân giặc, mà lập nên được công danh. Chẳng những là thái ấp ta được vững bền, mà các ngươi cũng đều được hưởng bổng lộc; chẳng những là gia quyến của ta được yên ổn, mà các ngươi cũng đều được vui với vợ con, chẳng những là tiên nhân ta được vẻ vang, mà các ngươi cũng được phụng thờ tổ phụ, trăm năm vinh hiển; chẳng những là một mình ta được sung sướng, mà các ngươi cũng được lưu truyền sử sách, nghìn đời thơm tho; đến bấy giờ các ngươi dầu không vui vẻ, cũng tự khắc được vui vẻ.
Nay ta soạn hết các binh pháp của các nhà danh gia hợp lại làm một quyển gọi là “Binh thư yếu lược”. Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này, theo lời dạy bảo, thì mới phải đạo thần tử; nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời dạy bảo, thì tức là kẻ nghịch thù.
Bởi cớ sao? Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung, thế mà các ngươi cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù, lại không biết dạy quân sĩ, khác nào như quay ngọn giáo mà đi theo kẻ thù, giơ tay không mà chịu thua quân giặc, khiến cho sau trận Bình Lỗ(4) mà ta phải chịu tiếng xấu muôn đời, thì còn mặt mũi nào đứng trong trời đất nữa. Vậy nên ta phải làm ra bài hịch này để cho các ngươi biết bụng ta.”
Chú thích:
(1) Điếu-ngư là tên núi, thuộc phủ Trùng Khánh, tỉnh Tứ Xuyên bên Tàu.
(2) Mông Kha là vua Mông Cổ, anh Hốt Tất Liệt.
(3) Khi quân Mông Cổ lấy được đất Vân Nam rồi, Hốt Tất Liệt phong cho con là Hốt Kha Kích là Vân Nam vương.
(4) Bình Lỗ là tên thành, nhưng sử cũ không chép rõ ở đâu và ai xây lên. Sách « Khâm-định Việt-sử » chép rằng theo bộ « Địa-dư-chí » của ông Nguyễn Trãi, thì đời nhà Lý có đào con sông Bình Lỗ để đi lên Thái Nguyên cho tiện. Vậy thành Bình Lỗ có lẽ ở vào hạt Thái Nguyên. Xem lời dặn của Trần Hưng Đạo vương thì thành Bình Lỗ này xây vào đời Đinh hay đời Tiền Lê, rồi Lý Thường Kiệt đời Lý đã đánh quân Tống ở đó.

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN THỨ NHẤT: THÀNH THĂNG LONG THẤT THỦ



VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: THOÁT HOAN SANG ĐÁNH LẦN THỨ NHẤT




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


3/ THOÁT HOAN SANG ĐÁNH LẦN THỨ NHẤT:
Sài Thung ôm vết thương
Về ra mắt Nguyên chủ
Nguyên chủ đầy giận dữ
Bèn cử con trai mình
Là Thoát Hoan, Thái tử
Đi làm Trấn Nam vương;
Thoát Hoan vội thi hành
Cùng năm mươi vạn binh
Chuẩn bị đi chiến đấu
Họ rỉ tai nhau rằng
Muốn mượn đường An Nam
Đi đánh nước Chiêm Thành.

Quan Trấn thủ Lạng Sơn
Bắt được tin do thám
Cấp báo về Thăng Long.
Vua Nhân Tông ngự thuyền
Ra bến sông Bình Than(1)
Hội với các vương hầu
Cùng chư tướng, bách quan
Đồng bàn mưu chống giặc:
Có quan nói như vầy:
“Cho mượn đường cũng được!”;
Có quan lại hiến kế:
“Nên tiến lễ vua Tàu
Để rồi xin hoãn binh...”;
Duy có Trần Quốc Tuấn
Cùng ông Trần Khánh Dư
Hai ông này quả quyết:
“Hãy đem quân phòng ngự
Những nơi nào hiểm yếu
Đặt lính canh cẩn mật
Ngăn chặn bước quân Nguyên...”
Những lời tâu nhiệt huyết
Khiến nhà vua tin tưởng!

Tháng mười, năm quý mùi
Nghìn hai trăm tám ba(2)
Vua Nhân Tông giáng chỉ
Phong cho Hưng Đạo Vương(3)
Làm Quốc công tiết chế
Thống lĩnh các đạo binh
Chống giặc Nguyên, giữ nước.

Tháng tám năm giáp thân
Nghìn hai trăm tám bốn(4)
Hưng Đạo Vương truyền hịch
Hội tụ các vương hầu
Cùng tất cả quân sĩ
Tại bến Đông Bộ Đầu
Tổ chức buổi duyệt binh
Cả hai bên thủy, bộ
Gồm hai mươi vạn người;
Trước toàn thể chư quân
Hưng Đạo Vương giáo huấn:
“Bản chức phụng mệnh vua
Cùng các ngươi phá giặc
Hỡi vương hầu, tướng sĩ
Ai nấy nên giữ gìn
Không được quấy nhiễu dân
Đồng lòng, ta đánh giặc
Chớ thấy thua mà nản
Chớ thấy được mà kiêu
Việc quân binh có luật
Phép nước chẳng vị thân
Các ngươi cần nghiêm giữ!”.
Khi đã giáo huấn xong
Vương sai Trần Bình Trọng
Đem quân đi đóng trại
Tại bến sông Bình Than;
Còn ở mặt Vân Đồn(5)
Vương cử Trần Khánh Dư
Điều động binh ra giữ;
Các tướng khác cũng vậy
Ai nấy đều nhận lệnh
Đến các nơi hiểm yếu
Nghiêm ngặt đặt quân canh;
Phân phó xong đâu đấy
Quốc Tuấn dẫn đại quân
Về đóng ở Vạn Kiếp(6)
Phòng tiếp ứng các nơi.

Qua một thời gian ngắn
Có tin về Thăng Long
Quân Nguyên đông rất đông
Quần tụ nơi Hồ Quảng
Bọn chúng đã sẵn sàng
Kéo sang mặt Lạng Sơn!
E rằng không cự nổi
Vua sai sứ sang Tàu
Mang theo nhiều lễ vật
Xin vua Nguyên hoãn binh
Để rồi thương nghị lại
Nhưng việc này thất bại
Vua nhà Nguyên đã quyết
Tiến binh sang Đại Việt!
Vua Nhân Tông biết vậy
Kíp triệu tập quần thần
Cùng bô lão dân gian
Hội tại điện Diên Hồng
Bàn định: HÒA hay CHIẾN???
Các bô lão đồng thanh
Cùng hô vang: “QUYẾT CHIẾN!”

Quân Nguyên chia hai đạo:
Một theo lệnh Toa Đô
Mười vạn quân đường biển
Họ lên đường tức khắc
Xuất phát từ Quảng Châu
Tiến đánh nước Chiêm Thành;
Sau đó một thời gian
Đại binh theo Thoát Hoan
Mới xuất phát lên đường
Hướng về đất An Nam
Khi đến gần biên giới
Hoan sai người đưa thư
Ý trong thư vờ vịt
Hỏi mượn đường nước Nam
Để đi đánh Chiêm Thành.
Nhân Tông trả lời thư:
“Tự đây sang Chiêm Thành
Không có đường nào tiện!”
Vừa nghe câu hồi đáp
Thoát Hoan giận đùng đùng
Thúc quân tới Lạng Sơn
Hắn sai quan A Lý
Nói với Hưng Đạo Vương:
“Bản súy chỉ mượn đường
Đi qua đánh nước Chiêm
Không có ý gì khác
Xin tướng quân đừng ngại
Mở cửa ải cho qua
Và cho mượn lương thảo
Khi nào xong việc lớn
Sẽ trọng tạ về sau;
Nhược bằng muốn kháng cự
Bản súy chẳng dung tình
Sẽ phá tan bờ cõi
Hối cũng chẳng kịp đâu!”
Hưng Đạo Vương nổi giận
Đuổi tên A Lý về
Rồi lệnh cho tướng sĩ
Giữ chặt các ải quan
Còn phía bên thủy lộ
Ngài cho đặt chiến thuyền
Canh phòng ở Bái Tân(7)
Vương tự dẫn đại quân
Tiến lên núi Kỳ Cấp.
Chú thích:
(1)       Bến sông Bình Than: chỗ sông Đuống nối với sông Thái Bình, thuộc huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh.
(2)       Nghìn hai trăm tám ba: 1283
(3)       Hưng Đạo Vương: vương hiệu của Trần Quốc Tuấn
(4)       Nghìn hai trăm tám bốn: 1284
(5)       Vân Đồn: thuộc Vân Hải, tỉnh Quảng Yên
(6)       Vạn Kiếp: làng Kiếp Bạc, tỉnh Hải Dương
(7)       Bái Tân: ở  thượng lưu sông Lục Nam, có lẽ là bến Chữ.

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: TRẦN HƯNG ĐẠO VƯƠNG QUÂN THUA VỀ VẠN KIẾP



VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN THỨ NHẤT: SÀI THUNG SANG SỨ AN NAM




VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ


GIẶC NHÀ NGUYÊN( 1284 — 1288 )

1/ SÀI THUNG SANG SỨ AN NAM:
Nhà Nguyên ở bên Tàu
Cho người đi ngóng tin
Biết Thái Tông vừa mất
Còn vua Trần Thánh Tông
Theo đường lối cha ông
Nhường ngôi cho Thái tử
Thái tử lên kế vị
Chính là vua Nhân Tông;
Vua Nguyên nghe tin đó
Sai Lễ bộ thượng thư
Là Sài Thung, quan lớn
Kíp sang sứ An Nam
Đi hạch hỏi vua Trần.
Sài Thung tới Thăng Long
Ngông nghênh trên lưng ngựa
Tiến vào cửa Dương Minh
Hắn chẳng nói năng gì
Chỉ sai người đưa thư
Gởi đến vua nhà Trần
Những lời ngầm ý trách:
Nhân Tông không phép tắc
Không xin phép thiên triều
Dám tự lập ngôi vua
Nay thiên triều phán bảo
Phải sang chầu mới xong!;
Nhà vua Trần Nhân Tông
Sai đại thần ra tiếp
Sài Thung không đáp lễ;
Vua bày yến mời Thung
Thung cũng không đến dự;
Cả đình thần An Nam
Ai nấy đều căm tức
Nhưng nào dám nói ra
Vì vận mệnh nước nhà
Muốn tránh nạn can qua
Vua Nhân Tông nhẫn nhịn
Vẫn mời mọc Sài Thung
Ngài cho bày yến tiệc
Ngay ở điện Tập Hiền
Lần này thì Thung đến.
Đương trong lúc thết rượu
Vua nói với Thung rằng:
“Quả nhân ở trong cung
Vốn không quen phong thổ
Chẳng thể sang quý quốc!”...
Rồi Sài Thung về nước...
Qua vài ba hôm sau
Vua sai sứ sang Tàu
Trao thư cho Nguyên chủ
Đại để ý trong thư
Như vua từng đã nói
Vua không thể sang chầu!
Ông vua Tàu giận lắm
Muốn đi đánh An Nam
Nhưng lòng ngài chưa quyết.

2/ TRẦN DI ÁI THEO NHÀ NGUYÊN:
Năm ấy, năm nhâm ngọ
Nghìn hai trăm tám hai(1)
Nhà Nguyên lại sai sứ
Sang chiêu dụ vua ta:
“Nếu không thể qua chầu
Lấy vàng ngọc qua thay
Kèm thêm hai hiền sĩ
Cùng hai thợ khéo tay
Và hai thầy bói toán”.

Nhà vua Trần Nhân Tông
Cử ông Trần Di Ái
Là chú họ của vua
Cùng Lê Tuân, Lê Mục
Đi thay thế nhà vua;
Nguyên chủ chẳng hài lòng
Muốn chiếm quyền cai trị
Trên lãnh thổ An Nam
Ông ta bèn giáng chỉ
Lập tòa Tuyên phủ ty
Và đặt quan liêu thuộc
Sang An Nam giám trị.
Quan liêu thuộc vừa tới
Nhân Tông không chấp nhận
Ra lệnh đuổi về Tàu.
Vua Tàu bừng cơn giận
Liền phong Trần Di Ái
Làm An Nam quốc vương;
Phong cho ông Lê Mục
Làm Hàn Lâm học sĩ
Và phong cho Lê Tuân
Chức quan Thượng thư lệnh;
Rồi lại cử Sài Thung
Dẫn một nghìn tên lính
Đưa bọn Di Ái về.
Ông chú họ của vua
Chắc dự tính cả rồi:
Phen này thôi cứ nhận
Nếu được thì làm vua
Lỡ việc thua, chẳng thành
Đành đổ cho Nguyên chủ(?)

Gần tới ải Nam Quan
Bọn Di Ái chẳng ngờ
Tin đã về kinh đô
Nhân Tông cử quan tướng
Dẫn đi một đội quân
Đón đánh lũ nghịch thần;
Sài Thung bị trúng tên
Mù mất một bên mắt
Hắn bỏ trốn về Tàu;
Lũ nghịch thần Di Ái
Bị bắt, mất chức quan
Phải tội đồ làm lính!
Chú thích:
(1)       Nghìn hai trăm tám hai: 1282

VNSL: CHƯƠNG VI-CHỐNG QUÂN NGUYÊN MÔNG LẦN I: THOÁT HOAN SANG ĐÁNH LẦN THỨ NHẤT