Thứ Năm, 19 tháng 2, 2026

VNSL: CHƯƠNG VIII - NHÀ TRẦN: TRẦN HIẾN TÔNG


VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ

 

III- TRẦN HIẾN TÔNG(1329-1341)

Nghìn ba trăm  hăm chín(1)

Thái tử Vượng làm vua:

Trần Hiến Tông lúc ấy

Mới có 10 tuổi đầu

Nên đã biết gì đâu

Vua vẫn chưa tự chủ

Mười ba năm làm vua

Chỉ là trên danh nghĩa

Việc trông nom xã tắc

Ở cả tay Thượng hoàng.

 

1/ GIẶC NGƯU HỐNG

Minh Tông vừa nhường ngôi

Đã có nơi loạnlạc

Ở phía mạn Đà giang(2):

Có giặc Mường Ngưu hống.

Thái Thượng hoàng thân chinh

Đi đánh bọn Ngưu hống;

Chúng phái người đưa thư

Bọn giặc giả xin hàng;

Thượng hoàng điều binh đi

Binh triều đình chưa tới

Đã có đội tiên phong(3)

Xuất phát từ Thanh hóa

Họ đã quá vội vàng

Tiến trước về Chiêm chiêu

Họ vừa đến trại(4) này

Giặc trong ấy đổ ra

Binh Thanh hóa bất ngờ

Chẳng còn kịp trở tay

Cả đạo quân tan tác

Vũ Tư Hoành tử trận.

Vừa hay tin dữ ấy

Đại binh Thái Thượng hoàng

Lừng lẫy tiếnquân lên

Quân Ngưu hống bỏ chạy

Trốn Vào rừng ẩn núp

Chúng quanh co lén lút

Nên không trừ hết được...

Tháng chín năm đinh sửu

Nghìn ba trăm  băm bảy(5)

Một dũng tướng nhà Trần

Chính là Hưng hiếu vương

Tổng chỉ huy binh lính

Hành quân bằng đường thủy

Ngược dòng sông Bạch Hạc(6)

Vương dẫn binh thần tốc

Xông vào trại Trịnh kỳ(7)

Chém được tên đầu đảng

Như con rắn mất đầu

Mạn Đà giang lặng sóng

Giặc Ngưu hống mới yên!

Chú thích:

(1) Nghìn ba trăm  hăm chín: năm 1329, Thái tử Vượng lên làm vua, lấy danh hiệu là Trần Hiến Tông

(2) Đà giang: vùng tây bắc An Nam

(3) Một số cánh quân tiên phong (như lực lượng của Chiêu Nghĩa hầu Phụ Minh) tự ý hành động, không theo lệnh nên đã bị thất trận, Tuyên Uy tướng quân Vũ Tư Hoành tử trận.

(4) trại Chiêm chiêu

(5) Nghìn ba trăm băm bảy: năm 1337, Hưng hiếu vương dụng binh thần tốc, đem quân bất ngờ đánh thẳng vào trại địch, chém chết tên đầu đảng

(6) Sông Bạch hạc: sông Đà

(7) Trại Trịnh kỳ: còn gọi là Chiềng Kỳ, thuộc vùng đất tây bắc

 

2/ GIẶC AI-LAO:

Khi còn đang bận rộn

Đánh đuổi Giặc Ngưu hống

Giặc Ai-lao lại vào

Cướp phá  huyện Tương dương(1)..

Khiến dân tah khốn đốn.

Nghìn ba trăm băm bốn(2)

Năm đó, năm giáp tuất

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Thân chinh đi đánh giặc:

Sai ông Nguyễn Trung Ngạn

Vào Thanh hóa vận lương

Chuẩn bị mặt hậu cần;

Thượng hoàng dẫn đại quân

Rầm rộ giương thanh thế

Tiến về huyện Tương dương

Kiềm châu(3) đón quân vào

Bọn giặc Lào khiếp hãi

Chúng tháo chạy tơi bời

Trốn về Lào biệt tăm!

 

Nghìn ba trăm băm lăm(4)

Giặc Ai-lao lại tới

Cướp phá ấp Nam nhung.

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Lần thứ hai ngự giá

Đi đánh giặc Ai-lao

Ngài sai Đoàn Nhữ Hài(5)

làm Đô đốc chư quân.

Nhữ Hài liền xung trận

Dẫn binh về phía trước

Vừa đến ấp Nam nhung

Hôm ấy có sương mù

Sông Tiết la mờ khuất

Phục binh của Ai-lao

Đổ ra đánh ào ào

Quan quân ta thua chạy

Rơi xuống sông chết đuối

Lẫn trong đám loạn quân

Đoàn Nhữ Hài cũng chết.

Minh Tông, Thái Thượng hoàng

Thấy Nhữ Hài bại trận

Vì quá ư khinh địch;

Ngài quan sát địa hình

Chỉnh đốn lại chư quân

Thân chinh đi tìm giặc

Vượt qua bao hiểm trở

Đánh  dẹp bọn giặc Lào

Khỏi bờ cõi nước ta.

Tháng mười hai năm đó

Thượng hoàng rút quân về

Qua vùng núi Hành Lam(6)

Lòng ngài đầy cảm khái

Sai ông Nguyễn Trung Ngạn

Khắc bia vào núi đá

Lời lẽ ý răn đe(7)

Giặc Lào kia đừng đến

Bia ấy nay vẫn  còn.

 

Thời đến năm tân tị

Nghìn ba trăm bốn mốt(8)

Trần Hiến Tông qua đời

Trị vì mười ba năm

Hăm ba năm tuổi thọ.

Chú thích:

 (1) Tương dương : thuộc tỉnh Nghệ an

(2) Nghìn ba trăm băm bốn: năm 1334

(3) Kiềm châu: thuộc huyện Tương dương

(4) Nghìn ba trăm băm lăm: năm 1335, Giặc Ai-lao lại tới cướp phá ấp Nam nhung, huyện Tương dương, tỉnh Nghệ an

(5) Đoàn Nhữ Hài: bấy giờ đang là quan Kinh lược sứ tỉnh Nghệ an

(6) Núi Hành Lam: nay thuộc huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ an

(7) Xem văn bài bia ấy được dịch ra chữ nôm ở cuối phần chú thích

(8) Nghìn ba trăm bốn mốt: năm 1341, Trần Hiến Tông qua đời, trị vì 13 năm, thọ 23 tuổi.

Văn bia khắc trên núi đá như sau:

«Chương-nghiêu Văn-triết Thái-thượng-hoàng là vua thứ sáu đời nhà Trần, nước Hoàng-Việt, chịu mệnh trời nhất thống cõi trung hạ, trong đất ngoài bể đâu cũng thần phục. Nước Ai-lao nhỏ-mọn kia dám ngạnh vương-hóa; cuối mùa thu năm ất-hợi vua thân đem sáu quân đi tuần cõi tây, Thế-tử nước Chiêm-thành, nước Chân-lạp, nước Tiêm-la và tù-trưởng các đạo mán là Quì, Cầm, Xa, Lạc, tù-trưởng rợ Bồ-man mới phụ và các bộ Mán Thanh-xa đều mang phương vật tranh nhau đến đón rước. Chỉ có tên nghịch Bổng cứ giữ mê-tối, sợ phải tội chưa lại chầu ngay. Cuối mùa đông vua đóng quân ở cánh đồng Cự, thuộc châu Mật, sai các tướng và quân rợ-mọi vào tận nước, nghịch Bổng theo gió chạy trốn. Vua mới xuống chiếu đem quân về. Lúc bấy giờ là ngày tháng chạp nhuận năm ất-hợi, niên-hiệu Khai-hữu thứ 7, khắc vào đá ».

 

VNSL: CHƯƠNG IX - NHÀ TRẦN: TRẦN DỤ TÔNG

Thứ Tư, 18 tháng 2, 2026

VNSL: CHƯƠNG VIII - NHÀ TRẦN: TRẦN MINH TÔNG

 

VIỆT NAM SỬ LƯỢC TRONG THƠ

VNSL: PHẦN BA - THỜI KỲ TỰ CHỦ

 

II- TRẦN MINH TÔNG(1314-1329)

Vào đúng năm giáp dần

Nghìn ba trăm  mười bốn(1)

Thái tử Mạnh lên ngôi

Làm vua trị đất nước

Hiệu là Trần Minh Tông.

Thời bấy giờ,

Quan tại triều nhiều người trí lược

Tướng tài giỏi cả nước nghe danh:

Này Chu Văn An...  Này Phạm Ngũ Lão...

Này Đoàn Nhữ Hài... Này Trương Hán Siêu...

Này Mạc đĩnh Chi... Này Nguyễn trung Ngạn...

Cho nên trong nước dân an

Giao hiếu với Tàu cũng tạm được yên!

Lại nói về nước Chiêm ngày ấy

Chế Chí chết, mồ còn chưa xanh cỏ

Người Chiêm kéo sang ta quấy nhiễu

Ở phía nam, phải động can qua.

Năm đấy năm mậu ngọ 

Nghìn ba trăm  mười tám(2)

Nhà vua Trần Minh Tông

Sai tướng quân Ngũ Lão

Cùng với Trần Quốc Chân(3)

Đem binh đánh Chiêm thành

Hành quân như vũ bão

Chế Năng, vua nước Chiêm

Phải bỏ thành mà chạy.

 

Từ độ năm ất mão

Nghìn ba trăm  mười lăm(4)

Chính trị nước An Nam

Cũng có nhiều đổi mới

Có lệ cấm thế này:

“Người trong cùng tộc họ

Tuyệt không thưa kiện nhau!”;

Qua tới năm bính thìn

Nghìn ba trăm  mười sáu(5)

Lệnh ban xuống như sau

Quan văn, võ trong triều

Duyệt định theo cấp bậc;  

Nghìn ba trăm  hăm ba(6)

Là vào năm quí hợi

Vua cho mở khoa thi

Chọn hiền tài giúp nước

Người đỗ đầu mỗi khóa

Gọi là Thái học sinh;

Và cũng trong năm ấy

Lệnh: nghiêm cấm vẽ mình

Ban truyền trong quân sĩ

Thói vẽ mình từ đây

Dân nước ta bỏ hẳn.

 

Nhà vua Trần Minh Tông

Vốn có lòng nhân hậu

Ngài thương yêu nhân dân

Làm nhiều điều tốt đẹp

Nhưng cũng mắc sai lầm

Đã giết oan tướng giỏi

Vì nghe phải nịnh thần.

Chuyện này ẩn mưu thâm

Huệ Võ vương chết thảm(7)

Ông chính là Quốc cữu

Cha vợ của Minh Tông

Có công to với nước...

Trước, nói về triều thần

Đã phân làm hai đảng:

Một: bên Văn hiến hầu

Còn có Trần Khắc Chung

Theo phò hoàng tử Vượng

Muốn Vượng làm Thái tử

Nhưng, Vượng con bà thứ

Việc khó chứ dễ đâu!?...

Một: bên Trần Quốc Chân

Xin khoan lập Thái tử

Chờ Hoàng hậu sinh con

Khi hoàng tử ra đời

Thời cũng là không muộn...

Nhưng bên kia sốt ruột

Hai đảng cứ dùng dằng!

Sau, nói về mưu thâm

Văn hiến hầu tính kế

Sai kẻ thay thế mình

Gặp người của Quốc Chân

Người ấy tên Trần Nhạc;

Cho Nhạc trăm lạng vàng

Xúi hắn đi vu cáo

Rằng: “Quốc Chân mưu phản”.

Vua Minh Tông cả tin

Bắt Quốc Chân trói lại

Giam tại chùa Tư Phúc.

Trần Khắc Chung lúc ấy

Thấy vua còn chần chừ

Chung liền tâu với vua

Rằng: “Bắt hổ thì dễ,

Rằng: “Thả hổ thì khó”.

Minh Tông nghe lời đó

Bỏ đói Trần Quốc Chân

Chân cứ vậy mà chết.

Chuyện này chưa hết đâu

Về sau, tên Nguyễn Nhạc

Vì có nhiều thê, thiếp

Sinh lắm chuyện ồn ào

Người vợ lẽ ghen tuông

Để trút nỗi bực mình

Nàng đi báo quan trên

“Rằng: Nhạc đã nhận vàng

Nghe lời kẻ xúi giục

Vu khống tội cho người!”

Nguồn cội, Nàng kể hết

Giải oan cho Quốc Chân!

Bấy giờ vua mới biết

Ngài giết oan trung thần.

 

Cho đến năm ất tị

Nghìn ba trăm  hăm chín(8)

Nhà vua Trần Minh Tông

Nhường ngôi cho Thái tử

Theo truyền thống cha ông

Về giữ chức Thượng hoàng.  

Chú thích:

(1) Nghìn ba trăm  mười bốn: năm 1314 Thái tử Mạnh lên ngôi vua, lấy hiệu là Trần Minh Tông

(2) Nghìn ba trăm  mười tám: năm mậu ngọ (1318), Minh Tông sai Huệ Võ vương và tướng quân Phạm Ngũ Lão đem binh đi đánh, vua Chiêm là Chế Năng phải bỏ thành mà chạy.

(3) Trần Quốc Chân: là tên của Huệ Võ vương

(4) Nghìn ba trăm  mười lăm: năm 1315

(5) Nghìn ba trăm  mười sáu năm 1316

(6) Nghìn ba trăm  hăm ba: năm 1323, dưới triều đại của vua Trần Minh Tông, nền giáo dục và khoa cử Nho học tiếp tục được triều đình chú trọng đẩy mạnh, nhằm tuyển chọn hiền tài phục vụ đất nước. Khoa thi Thái học sinh(tương đương với tiến sĩ các đời sau), người đỗ đầu được ban danh hiệu là Thái học sinh.

(7) Huệ Võ vương: chính là Trần Quốc Chân, thân sinh ra Hoàng hậu và lại có công đi đánh Chiêm thành thắng trận mấy lần. Nhưng vì Hoàng hậu chưa có hoàng tử, triều thần phân ra làm hai đảng, một đảng thì có Văn hiến hầu và Trần Khắc Chung, xin lập hoàng tử Vượng là con bà thứ, làm thái tử. Một đảng thì có Trần Quốc Chân xin chờ cho Hoàng hậu có con trai rồi sẽ lập Thái tử.

(8) Nghìn ba trăm  hăm chín: năm 1329 Trần Minh Tông nhường ngôi cho Thái tử Vượng rồi về làm Thái Thượng hoàng

  

VNSL: CHƯƠNG VIII - NHÀ TRẦN: TRẦN HIẾN TÔNG